Công tố là gì ? Thực hành quyền công tố là gì ?

Công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Bài viết xoay quanh vấn đề về công tố và thực hành quyền công tố

1. Công tố là gì?

Công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

[external_link_head]

2. Quyền công tố là gì ?

Ở Việt Nam, quyền công tố được nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện. Để làm tốt việc này, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và thực hiện sự buộc tội đó tại phiên toà.

Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội, do đó, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội.

2.1. Đặc điểm cơ bản của quyền công tố

Thứ nhất, quyền công tố là quyền lực nhà nước, quyền công tố xuất hiện cùng với Nhà nước và pháp luật.

Thứ hai, quyền công tố luôn gắn liên với quyền tài phán của Tòa án, là quyền đưa vụ việc ra xét xử tại Tòa án và bảo vệ quan điểm giải quyết vụ việc tại Tòa án.

Quyền công tố chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, nơi mà cơ quan được giao quyền luôn có nhiệm vụ đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Về thời điểm bắt đầu và chấm dứt quyền công tố, để đưa được người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó thì cơ quan được giao thực hiện quyền công tố phải có những quyền năng pháp lý nhằm đảm bảo cho việc truy tố và bảo vệ quan điểm của mình. Để đảm bảo cho việc truy tố đúng thì cơ quan thực hiện quyền công tố phải có quyền đối với việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp cần thiết khác dể phát hiện tội phạm, người phạm tội và thu thập chứng cứ. Để bảo vệ quan điểm giải quyết vụ án tại Tòa án, thì sau khi kết thúc phiên tòa, cơ quan thực hiện quyền công tố phải có quyền đưa vụ án lên Tòa án cấp cao hơn để giải quyết nếu thấy viêc giải quyết vụ án không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, tuy trung tâm của hoạt động thực hành quyền công tố là truy tố và buộc tội tại Tòa án nhưng quyền công tố phải được bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc bản án, quyết định giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị thì quyền công tố đương nhiên chấm dứt, vì lúc này việc buộc tội đã hoàn thành.

Như vậy, quyền công tố ở Việt Nam là quyền do Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện theo quy định của pháp luật để phát hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội tại phiên tòa.

2.2. Đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố

– Đối tượng của quyền công tố

Đối tượng của quyền công tố là cái mà quyền công tố nhằm mục đích đạt được mục tiêu cụ thể nào đó. Quyền công tố là quyền phát hiện tội phạm, truy cứu người phạm tội ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó. Với ý nghĩa đó thì đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.

[external_link offset=1]

– Nội dung của quyền công tố

Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của quyền công tố nhưng xuất phát từ quan điểm coi bản chất của quyền công tố là sự buộc tội nhân danh nhà nước, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, có thể hiểu nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm.

– Phạm vi quyền công tố

+ Về phạm vi không gian: Xuất phát từ việc coi quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc buộc tội, có thể hiểu quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự.

+ Về phạm vi thời gian: là thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố.

3. Thực hành quyền công tố

3.1. Khái niệm thực hành quyền công tố

Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.

Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lí thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Từ năm 1945 đến năm 1950, quyền công tố được được giao cho một bộ phận của toà án đệ nhị cấp (tỉnh) với chức danh đứng đầu là Biện lí, ở Toà án thượng thẩm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ với chức danh là Chưởng lí, ở Toà án quân sự (xử các việc chính trị) với chức danh là Công cáo viên, ở Toà án binh với chức danh Uỷ viên Chính phủ. Từ năm 1950 đến 1960, ở các Toà án nhân dân cấp tỉnh và liên khu, quyền công tố do các Công tố uỷ viên đảm nhiệm. Từ năm 1960, quyền công tố được thực hị ên bởi hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân.

3.2. Phạm vi thực hành quyền công tố

Phạm vi thực hành quyền công tố có mối liên hệ nhất với phạm vi của quyền công tố. Xét về nguyên tắc thì chúng đồng nhất với nhau những trên thực tế thì giữa chúng còn có một khoảng cách nhất định. Như vậy, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và khi kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị (trừ trường hợp có căn cứ do pháp luât quy định làm quyền công tố bị triệt tiêu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật như khi vụ án được đình chỉ). Do vậy, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố phải được phát động. Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào tội phạm xảy ra thì việc phát động quyền công tố cũng được tiến hành mà trên thực tế vẫn còn những tội pham xảy ra những vì nhiều lý do khác nhau nên không bị phát hiện và xử lý (tội phạm ẩn). Có nghĩa là thực hành quyền công tố chưa được bắt đầu nhưng quyền công tố thì vẫn luôn hiện hữu đối với người đã thực hiện tội phạm mà chưa bị phát hiện, khởi tố, điều tra. Điều này cũng có nghĩa là phạm vi quyền công tố rộng hơn phạm vi thực hành quyền công tố.

3.3. Nội dung thực hành quyền công tố

Nội dung thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng để phát hiện tội phạm và truy tố người phạm tội nhằm đảm bảo thực hiện truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm:

– Thứ nhất là hoạt động phát động quyền công tố, đó là khởi tố vu án và khởi tố bị can. Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những hoạt động mở đầu quá trình điều tra xử lý trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và người phạm tội.

Khởi tố vụ án là việc Nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện tội phạm đó.

Khởi tố bị can là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức tuyên bố về mặt pháp lý một người nào đó có dấu hiệu phạm tôi và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Thứ hai là hoạt động của thực hành quyền công tố tiếp tục được thực hiện bởi Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sư bằng biện pháp cụ thể sau:

+ Để ra yêu cầu và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra, khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra.

+ Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tam giam và các biện pháp ngăn chặn khác.

[external_link offset=2]

+ Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra.

+ Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan điều tra.

+ Quyết định truy tố bị can.

+ Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Thứ ba là trong giai đoạn xét xử, hoạt động thực hành quyền công tố tiếp tục được thực hiện, thể hiện qua việc đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vu án tại phiên tòa, thưc hiên việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, hội những người tham gia tố tụng, tranh luận, quyết định rút quyết định truy tố hoặc định tội nhẹ hơn, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm…, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án và tham gia tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm,…

4. Nguyên tắc công tố trong tố tụng hình sự

Theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, nguyên tắc công tố trong tố tụng hình sự được xác định tại Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự:

“Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định”.

Trong tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án khi có những dấu hiệu phạm tội là thuộc về quyền và trách nhiệm của cơ quan tố tụng. Xuất phát từ lợi ích công (lợi lích của Nhà nước và xã hội) mà không phụ thuộc vào ý chí và lợi ích của tổ chức, cá nhân riêng rẽ nào, cơ quan có thẩm quyền tố tụng tiến hành khởi tố vụ án, làm khởi động toàn bộ quá trình tố tụng hình sự.

Bên cạnh đó, nội dung khác của nguyên tắc công tố là việc duy trì quyền công tố trước Tòa án. Nội dung trên được xác định tại Khoản 1 Điều 23, theo đó, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước tòa án.

Nguyên tắc truy tố là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự, đóng vai trò quan trọng trong thực hiện quá trình tố tụng. Dựa trên tính khách quan nó thì nguyên tắc truy tố trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, lợi ích chung của xã hội, cộng đồng và lợi ích của Nhà nước.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập) [external_footer]