Cocaine – Đối tượng Đặc biệt – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia

Cocaine là một loại thuốc có tác dụng giống giao cảm với kích thích hệ thần kinh trung ương và tính chất sảng khoái. Liều cao có thể gây hoảng loạn, triệu chứng giống tâm thần phân liệt, co giật, tăng thân nhiệt,tăng huyết áp, rối loạn nhịp, đột quỵ,, phình động mạch chủ, thiếu máu ruột và nhồi máu cơ tim. Ngộ Độc được điều trị hỗ trợ, bao gồm các thuốc benzodiazepiné đường tĩnh mạch (đối với kích động, cao huyết áp, và co giật) và các kỹ thuật làm mát (đối với chứng tăng thân nhiệt). Hội chứng cai biểu hiện chủ yếu là trầm cảm, khó tập trung, và buồn ngủ (hội chứng loại cocaine).

Hầu hết người sử dụng cocaine là sử dụng giải trí theo giai đoạn. Tuy nhiên, khoảng 25% (hoặc nhiều hơn) đủ tiêu chí về lạm dụng hoặc lệ thuộc. Sử dụng trong thanh thiếu niên đã giảm gần đây. Khả năng của dạng có hoạt tính sinh học cao như crack cocaine đã làm nặng thêm vấn đề nghiện cocain. Hầu hết cocaine ở Mỹ có khoảng 45 đến 60% tinh khiết; nó có thể chứa rất nhiều chất độn, chất gây nghiện và chất tạp nhiễm.

[external_link_head]

Hầu hết cocaine ở Mỹ có tính bay hơi được dùng dưới dạng hít, nhưng có thể bằng cách khịt mũi, hoặc tiêm chích. Đối với dạng hít, muối hydrochloride dạng bột được chuyển thành dạng dễ bay hơi hơn, thường bằng cách thêm NaHCO3, nước và làm nóng. Các kết tủa tổng hợp (crack cocaine) được bay hơi bằng cách làm nóng (không đốt) và hít. Tác dụng khởi đầu là nhanh chóng, và mức độ của các chất cạnh tranh có liên quan đến tiêm tĩnh mạch. Khả năng dung nạp cocaine xảy ra, và việc cai nghiện nặng nề được đặc trưng bởi buồn ngủ, khó tập trung, tăng thèm ăn, và trầm cảm. Xu hướng tiếp tục dùng thuốc rất mạnh sau một thời gian cai nghiện.

Cocaine, một alkaloid có trong lá của cây coca, tăng tiết norepinephrine, dopamine, và tác động serotonin tới hệ thần kinh trung ương và ngoại vi.

Tăng cường hoạt tính dopamine là nguyên nhân có thể gây ra ảnh hưởng của thuốc và do đó tăng cường góp phần lạm dụng và lệ thuộc.

Tác động norepinephrine gây ra triệu chứng giống giao cảm: nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, giãn đồng tử, vã mồ hôi và tăng thân nhiệt.

Cocaine cũng chẹn kênh natri, nó được dùng như là một chất gây tê tại chỗ. Cocaine gây giãn mạch và do đó có thể ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan. Nhồi máu cơ tim, nhồi máu não và xuất huyết, lóc tách động mạch chủ, thiếu máu ruột, và nhồi máu thận là những di chứng có thể xảy ra.

Tác dụng khởi đầu của cocain phụ thuộc vào phương thức sử dụng:

[external_link offset=1]

  • Tiêm tĩnh mạch và hít: Tác dụng Ngay lập tức, đỉnh tác dụng sau khoảng 3 đến 5 phút, và kéo dài khoảng 15 đến 20 phút

  • Dùng đường xịt mũi: Bắt đầu sau khoảng 3 đến 5 phút, đỉnh tác dụng ở 20 đến 30 phút, và kéo dài 45 đến 90 phút

  • Đường uống: bắt đầu có tác dụng sau khoảng 10 phút, đỉnh tác dụng ở khoảng 60 phút, và kéo dài khoảng 90 phút

Vì cocaine là một loại thuốc có tác dụng ngắn, nên con nghiện có thể tiêm hoặc hút thuốc nhiều lần mỗi 10 đến 15 phút.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Tác dụng cấp tính

Ngộ độc hoặc quá liều

Quá liều có thể gây ra lo lắng, hoảng sợ, kích động, hung dữ, mất ngủ, ảo giác, hoang tưởng, mất khả năng phán đoán, run, co giật và mê sảng. Giãn đồng tử và vã mồ hôi là rõ ràng, nhịp tim và huyết áp tăng. Tử vong có thể do MI hoặc rối loạn nhịp tim.

Quá liều nặng gây ra hội chứng rối loạn tâm thần cấp tính (ví dụ như các triệu chứng giống tâm thần phân liệt), cao huyết áp, tăng thân nhiệt, tiêu cơ vân, rối loạn đông máu, suy thận và co giật. Bệnh nhân có thể có biểu hiện ngộ độc trên lâm sàng rõ rệt, do cơ sở di truyền, giảm cholinesterase huyết thanh (không điển hình), một loại enzym cần thiết để thanh thải cocaine.

Bệnh nhân hít phải cocain có thể mắc hội chứng tổn thương phổi cấp tính với sốt, ho ra máu và giảm oxy hóa máu, có thể tiến triển thành suy hô hấp.

Việc sử dụng đồng thời cocaine và rượu tạo ra một sản phẩm đậm đặc, cocaethylene, có đặc tính kích thích và có thể gây độc.

Ảnh hưởng mãn tính

Hội chứng cai

Các triệu chứng chính là trầm cảm, khó tập trung, và buồn ngủ (hội chứng cai cocaine). Sự thèm ăn tăng lên.

  • Benzodiazepine đường tĩnh mạch

  • Tránh các chất chẹn beta

    [external_link offset=2]

  • Làm mát cho tăng thân nhiệt khi cần thiết

Tăng huyết áp không đáp ứng với các thuốc benzodiazepine được điều trị bằng nitrat IV (ví dụ, nitroprusside) hoặc phentolamine; thuốc chẹn beta không được khuyến cáo vì chúng cho phép tiếp tục kích thích alpha-adrenergic.

Tăng thân nhiệt có thể đe doạ đến tính mạng và cần được điều trị tích cực bằng an thần kèm theo hạ thân nhiệt, gói nước đá và duy trì thể tích nội mạch và lượng nước tiểu bằng truyền tĩnh mạch dung dịch đẳng trương.

Phenothiazines liều thấp để điều trị co giật, và tác dụng kháng cholinergic có thể cản trở cho việc làm hạ thân nhiệt; do đó, chúng không được ưa thích để gây an thần.

Thỉnh thoảng, những bệnh nhân kích động nặng phải được giãn cơ và thông khí cơ học để cải thiện tình trạng nhiễm toan, tiêu cơ vân hoặc rối loạn chức năng đa hệ.

Đau ngực liên quan đến cocaine được đánh giá như đối với bất kỳ bệnh nhân nào khác nguy cơ tiềm tàng bị thiếu máu cơ tim hoặc tách thành động mạch chủ, cần chụp X-quang phổi, ECG, và marker tim trong huyêt thanh. Như đã thảo luận, các thuốc chẹn beta chống chỉ định, và benzodiazepine là thuốc điều trị khởi đầu. Nếu cần phải làm giãn mạch vành sau khi dùng thuốc benzodiazepine, nitrat được sử dụng, hoặc phentolamine 1 đến 5 mg IV có thể được xem xét.

Những người nghiện nặng và những người nghiện dạng chích hoặc hút thuốc sẽ dễ bị lệ thuộc. Người sử dụng ít và những người dùng thuốc theo đường hít hoặc đường miệng có nguy cơ bị phụ thuộc thấp hơn. Ngừng sử dụng lâu dài cần được hỗ trợ đáng kể khi dừng thuốc, và trầm cảm cần giám sát chặt chẽ và điều trị.

Tồn tại Các liệu pháp điều trị ngoại trú, bao gồm các nhóm hỗ trợ và tự giúp đỡ và đường dây nóng của cocaine. Khi có tổn thương thể chất hoặc tinh thần hoặc khi điều trị ngoài trú lặp lại thất bại thì điều trị nội trú là cần thiết.

[external_footer]

Related Posts